• Chào Mừng Độc Giả Lời Hằng Sống!

    Thưa quý vị, Đây là blog cá nhân của tiên tri Huỳnh Thúc Khải được quản lý bởi một nhóm anh em Việt Nam đang sống tại Mỹ. Vì trang web cũ Lời Hằng Sống (loihangsong.net) đã bị kẻ xấu phản bội đánh phá, nên trang này được thay thế cho trang cũ LHS.net.[...]

  • Vài nét giới thiệu về Tiên tri Huỳnh Thúc Khải:

    Tiên tri Huỳnh Thúc Khải sinh ngày 10/10/1965 tại thôn Ân Đôn, xã Ân Phong Huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định – Việt nam. Tin Chúa năm 1974. Làm báp-tem năm 1984 tại nhà thờ Tin lành Bồng Sơn – Bình định (do mục sư Nguyễn Ngọc Thuận cử hành). Được báp-tem Thánh Linh trong phong trào Ân tứ tại nhà thờ Tin lành Quy nhơn năm 1988. Được tấn phong mục sư bởi giáo hội Mennonite ngày 19/10/2010 bởi Mục sư Nguyễn Hồng Quang và Hội đồng Tấn phong. (Chứng thư sắc phong số 07-0020/VMC-SP) [...]

  • Sứ Mạng Tiên Tri – Sinh Ra Để Làm Tiên Tri.

    “Hỡi con người, ta đã lập ngươi lên đặng canh giữ nhà Y-sơ-ra-ên; khá nghe lời từ miệng ta, và thay ta răn bảo chúng nó.” (Ê-xê-chi-ên 3: 17) “Đức Giê-hô-va đã gọi ta từ trong bụng mẹ đã nói đến danh ta từ lòng dạ mẹ ta… Đức Giê-hô-va là Đấng đã lập ta làm tôi tớ Ngài từ trong bụng mẹ… vì ta được tôn trọng trước mắt Đức Giê-hô-va, và Đức Chúa Trời ta là sức mạnh ta.” (Ê-sai 49: 1, 5)[...]

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2017

Đếm Ngược Thời Gian…!


Đếm Ngược Thời Gian…!

Kết quả hình ảnh cho Đếm Ngược Thời Gian…!

Cầu xin Chúa dạy chúng tôi biết đếm các ngày chúng tôi,
Hầu cho chúng tôi được lòng khôn ngoan.” (Thi thiên 90: 12)

***
Thi sĩ nổi tiếng người Việt Nam chúng ta - Cao Bá Quát từng viết:
Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy,
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười…
Trong cái nhìn của thi sĩ Cao Bá Quát, đời người là “ba vạn sáu ngàn ngày” (365 ngày X 100 năm bằng khoảng 3 vạn, 6 ngàn ngày…)
So với sự vĩnh hằng của Thiên Chúa hay với sự vận chuyển của vũ trụ với tốc độ ánh sáng của những dải Thiên hà… thì đời người chỉ là một thoáng chốc, một hơi thở ngắn ngủi, mong manh…
Môi-se trong bài cầu nguyện của ông thì đời người là 70-80… là cùng:
Tuổi tác của chúng tôi đến được bảy mươi,
Còn nếu mạnh khoẻ thì đến tám mươi;
Song sự kiêu căng của nó bất quá là lao khổ và buồn thảm,
Vì đời sống chóng qua, rồi chúng tôi bay mất đi.
” (Thi thiên 90: 10)

Môi-se nói rằng: Đời sống (của mỗi người) sẽ qua nhanh như một “hơi thở”!
Đời sống của mỗi người chúng ta được tính bằng “ngày” – với thi sĩ Cao Ba Quát là “ba vạn sáu ngàn ngày”!
Tác giả Thi thiên 139:
Mắt Chúa đã thấy thể chất vô hình của tôi;
Số các ngày định cho tôi,
Đã biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy…
” (Thi thiên 139: 16)

Mỗi người chúng ta khi chưa sinh ra thì Chúa đã định cho chúng ta – mỗi người có bao nhiêu ngày để sống trên đất này rồi! Con số ấy đã được biên vào trong sổ của Chúa!
Đời người là ngắn ngủi và đã được “định trước” như vậy, nhưng không phải ai cũng biết điều đó để… “sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí…” - như một nhà văn nổi tiếng của Nga đã viết.
Ê-li-hu là bạn của Gióp, vốn là một triết gia… ông ta luận rằng: Nếu con người biết kính sợ Chúa, vâng nghe và phục sự Chúa thì các ngày của họ sẽ được may mắn…
Nếu chúng vâng nghephục sự Ngài,
Thì các ngày chúng sẽ được may mắn,
Và những năm chúng được sự vui sướng
.” (Gióp 36: 11)

Tác giả Thi thiên 39 thì cầu nguyện:
Hỡi Đức Giê-hô-va, xin cho tôi biết cuối cùng tôi,
số các ngày tôi là thể nào;
Xin cho tôi biết mình mỏng mảnh là bao
.” (Thi thiên 39: 4)

Đời sống của chúng ta thật sự là mỏng manh. Sứ đồ Gia-cơ đã ví đời người như một màng sương buổi sớm mai…
Vì, sự sống của anh em là chi? Chẳng qua như hơi nước, hiện ra một lát rồi lại tan ngay…” (Gia-cơ 4: 14)
Thế giới mà chúng ta đang sống đây “THỰC mà ẢO” - “ẢO mà THỰC”! Thực: vì nó hiện hữu bằng vật chất, có thể sờ nếm, trải nghiệm… nhưng cũng rất “ảo”: bởi vì nó có thể biến mất bất cứ lúc nào, hoặc là nó biến mất theo nghĩa đen (Tận thế, hủy diệt) hoặc là “ta biến mất khỏi thế giới” (trở về cát bụi…) thì nó cũng hoàn toàn “ảo” với chúng ta…!
Kẻ ác thì sống không thọ, “chết bất đắc kỳ tử”, hoặc sống “chưa đến được nửa số năm định cho họ”:
Hỡi Đức Chúa Trời, kẻ ham đổ huyết và người giả ngụy sống chẳng đến được nửa số các ngày định cho mình;
Chúa sẽ xô chúng nó xuống hầm diệt vong;
Còn tôi sẽ tin cậy nơi Chúa
.” (Thi thiên 55: 23)

Vì cớ ấy Ngài làm cho các ngày chúng nó tan ra hư không,
Dùng sự kinh khiếp làm tiêu các năm chúng nó
.” (Thi thiên 78: 33)

Tuy nhiên, không hẳn kẻ ác nào cũng “chết bất đắc kỳ tử”. Có những kẻ ác nhưng Chúa cho họ vẫn sống thọ. Sự sống “thọ” đó đôi khi còn “khổ hơn cả chết”. Vì họ sống đó để nhìn thấy “thành quả của việc ác mà mình làm lúc còn tuổi trẻ”! Hoặc để chịu sự dằn vặt của lương tâm hoặc để chịu sự quả báo nơi thế thượng…!

Bởi cơn giận của Chúa, các ngày chúng tôi đều qua đi;
Năm chúng tôi tan mất như hơi thở
.” (Thi thiên 90: 9)
Khi dân sự của Chúa làm cho Chúa buồn giận, thì năm tháng của đời họ sẽ trôi qua một cách vô nghĩa – “40 năm lang thang trong sa mạc” của dân Y-sơ-ra-ên là một bài học… Đời người là ngắn ngủi, chúng ta nhớ “đừng làm cho Chúa buồn”!
Các ngày tôi như bóng ngã dài ra,
Tôi khô héo khác nào cỏ
.” (Thi thiên 102: 11)
Buổi sáng, chúng ta thấy cái bóng của mình nó dài… rồi từ từ ngắn lại… Buổi chiều, cái bóng của chúng ta nó bắt đầu dài ra… cho đến kết thúc… khi mặt trời lặn.
- Tuổi trẻ chúng ta thấy (hoặc tưởng) cuộc đời mình dài… đến đứng tuổi chúng ta thấy cuộc đời mình ngắn (qua nhanh) và khi về chiều (tuổi xế chiều) chúng ta bắt đầu thấy cuộc đời mình cũng dài… nhưng dài trong sự mòn mỏi, khô héo của tuổi già… như hoa cỏ ngoài đồng phải có lúc khô héo…! Cái dài của buổi chiều là cái dài để đi đến kết thúc khi mặt trời… “khuất núi”!
Các ngày tôi như bóng ngã dài ra,
Tôi khô héo khác nào cỏ
.” (Thi thiên 102: 11)
Tác giả Thi thiên đã cầu xin với Đức Chúa Trời, Đấng Sống Vĩnh Hằng – Vô Thủy-Vô Chung rằng: Xin đừng cất lấy sự sống tôi giữa các ngày đã định cho tôi:
Tôi tâu rằng: Đức Chúa Trời tôi ôi! Các năm Chúa còn đến muôn đời,
Xin chớ cất lấy tôi giữa chừng số các ngày tôi
.” (Thi thiên 102: 24)
Kết luận:
Chúng ta có bao nhiêu ngày trên đất này? Đã “sử dụng” bao nhiêu và còn bao nhiêu ngày nữa…!?
Những ngày cuối năm và khởi đầu một năm mới là cơ hội, là dịp để chúng ta “tính lại sổ đời”… Nói như tác giả Thi thiên “Cầu xin Chúa dạy chúng tôi biết đếm các ngày chúng tôi, Hầu cho chúng tôi được lòng khôn ngoan.” (Thi thiên 90: 12)
Đời sống là ngắn ngủi. Dù được tính bằng ngày hay năm thì nó vẫn có thể “tính được trên đầu ngón tay”… Và khi nhận thức được như vậy thì việc chúng ta dùng những năm tháng ngắn ngủi còn lại để theo đuổi những giá trị tạm bợ, phù du trong thế gian này là… không khôn ngoan…!
Quỹ thời gian của mỗi người trong chúng ta trên đất này là không có nhiều, dù chúng ta ở hạng tuổi nào… Vậy hãy sống cho mục đích và ý muốn của Đức Chúa Trời… Đó là sự chọn lựa và đầu tư khôn ngoan…

Kết quả hình ảnh cho Đếm Ngược Thời Gian…!
Cầu xin Chúa ban ơn để chúng ta không hoang phí đời sống cho những mục đích phù du, tạm bợ trong thế gian… nhưng “sống như người khôn ngoan”! A-men.

Tt. Ms Huỳnh Thúc Khải
LHS- 20/1/2017

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2017

Đầu Năm TLH Bị… Chơi Khăm?



Đầu Năm TLH Bị… Chơi Khăm?
(Khách "các bà" đi viếng TLH)
 ***
Đầu năm, nhân dịp Tết… một đám “đàn bà” với chức vị “phó”… dẫn một đám “phụ nữ” kéo nhau tới thăm chúc Tết “các quan TLH”… Các quan cai ở TLH phải ra tiếp với vẻ mặt “cực chẳng đả”…
Cấp trên của “phái đoàn toàn phụ nữ” này họ có dụng ý gì không, khi cử một “đám đàn bà với chức vị cấp phó” đi thăm TLH- là những ông ở chức vị “cấp cao của Tin lành VN”… thì không rõ! Nhưng các quan tướng của TLH có lẽ trong tình thế, phải “nai nịt áo quần, áo vét, cà vạt” ra tiếp “đám đàn bà cấp phó”… chắc tâm trạng cũng không vui gì!
Thơ Kiều có câu:
Vui là vui gượng kẻo mà…
Ai tri âm đó, mặn mà với ai”! (Nguyễn Du)
Suy cho cùng thì Kinh thánh có chép: “Vì phàm ai tôn kính ta, ta sẽ làm cho được tôn trọng, còn ai khinh bỉ ta, tất sẽ bị khinh bỉ lại.” (I Sa-mu-ên 2: 30)
Ở một góc độ nào đó, người viết nhận thấy: Người ta khinh bỉ các quan tướng TLH khi họ làm như vậy, chứ không hề có chút tôn trọng (hoặc là “chơi khăm”). Ngược lại, các quan TLH thì “dốt nát về ngoại giao”… Trong tình huống như vậy, các ông có quyền cử các bà ra tiếp, nhận lời cảm ơn rồi… tiễn khách! (các ông khoái làm to, nhưng đầu óc thì ngu dốt- người ta chơi khăm mà chả biết gì…)
Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đàn ông…” (I Ti-mô-thê 2: 12)
Dân ta bị đàn bà cai trị nó. Hỡi dân ta, kẻ dẫn ngươi làm cho ngươi sai lạc, và họ phá hoại đường lối ngươi.” (Ê-sai 3: 12)
Lãnh đạo Hồi giáo họ có thể đưa ra lý do tôn giáo để “không tiếp khách ngoại giao là phụ nữ”, dù đó là bộ trưởng ngoại giao Hoa kỳ đến thăm ngoại giao với họ… (Ít khi nào chính phủ Hoa kỳ cử phụ nữ đi làm công tác ngoại giao với các quốc gia Hồi giáo, vì họ biết đó lả vấn đề tế nhị, liên quan niềm tin tôn giáo…)
Xã hội nào cũng vậy: phụ nữ luôn luôn là “phụ” (không phải chính) trong vai trò lãnh đạo- ngoại trừ một vài trường hợp cá biệt…
Người ta cử một đoàn ngoại giao toàn là “đàn bà cấp phó” đi viếng, mà các quan tướng cấp cao TLH cũng “chường mặt ra đón” là thể hiện sự ngu dốt… của cả đôi đàn.

Năm mới mà thăm viếng kiểu này thì không biết là mới hay… cũ!  

 

 





 ***
 

"Năm Mới - Lòng Mới": Lòng mới đâu chưa biết, nhưng "trí" các ông thì ... cũ mèm! 
 
LHS- 19/1/2017

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2017

Ơn Cứu Rỗi: Tiền Định Và Tự Do Có Mâu Thuẫn Không?

Ơn Cứu Rỗi: Tiền Định Và Tự Do Có Mâu Thuẫn Không?

 Kết quả hình ảnh cho Ơn Cứu Rỗi: Tiền Định Và Tự Do Có Mâu Thuẫn Không?
Giáo lý về ơn cứu rỗi trong Kinh thánh có hai quan điểm chính: “Tiền định” và “Ý chí tự do”. Hai quan điểm này tồn tại song hành, đôi khi “mâu thuẫn sâu sắc”. Dĩ nhiên cả hai quan điểm đều có dẫn chứng và minh chứng từ Kinh thánh. Vậy đâu là chân lý…?
Hai quan điểm được tóm tắc ngắn gọn như sau:
- Tiền định: là Đức Chúa Trời định trước một số người được cứu, dựa trên căn bản: sự sa ngã hoàn toàn của con người. Chúa chọn con người để cứu chứ con người không (có khả năng) chọn Chúa… (Ê-phê-sô 1: 4; Giăng 16: 16; II Ti-mô-thê 1: 9)
- Tự do: Chúa hy sinh cứu người (ban ơn cứu rỗi) nhưng con người bởi ý chí tự do quyết định chọn tin hay không tin. Và họ phải chịu trách nhiệm về sự chọn lựa của mình… (Giăng 3: 16-17)
Sự mâu thuẫn giữa hai quan điểm: Nếu Chúa tiền định thì con người không chịu trách nhiệm về sự hư mất… Nếu sự cứu rỗi tùy thuộc ý chí tự do (tin hay không tin) thì sự tiền định (định trước) của Chúa cho ai đó được cứu là “không chắc chắn”…! Sự “tiền định độc đoán” là nghịch với bản tánh nhân từ, yêu thương, công bình của Chúa…
Như đã nói: khi đưa ra quan điểm thì cả hai đều có dẫn chứng Kinh thánh. Phía “tự do” cũng không thể bác bỏ sự tiền định (vì Kinh thánh có dạy như vậy)… ngược lại, phía “tiền định” cũng khó khẳng định “tự do” là vô căn cứ… Vậy Kinh thánh mâu thuẫn chăng? Không hề như vậy. Vậy chân lý ở đâu?
Sách Rô-ma chương 1 luận rằng: cả loài người đã sa vào tội lỗi, chống nghịch Đức Chúa Trời, ưa thích cùng làm những điều trái với “bản tánh tự nhiên” (lúc ban đầu) mà Đức Chúa Trời dựng nên ở con người… Họ biết Đức Chúa Trời nhưng thay vì thờ lạy, biết ơn… họ lại đi “kính thờ và hầu việc loài thọ tạo thay cho Đấng Tạo hóa”… (Rô-ma 1: 18-25) Tất cả những điều đó khiến con người ở dưới “cơn giận của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 1: 18). Cả nhân loại đều ưa thích cùng làm những điều “chọc giận” Đức Chúa Trời… Và họ làm điều đó trong sự nhận thức và có ý thức (ý chí tự do)… Có thể nói con người “dùng ý chí tự do” được ban của mình, để chọc giận Đức Chúa Trời, như thể THÁCH THỨC lòng nhân từ và quyền năng của Chúa…! Và vì vậy, cả nhân loại đều bị “xứng đáng để đi vào hỏa ngục đời đời”…! (Rô-ma 1: 18) Do đó, Chúa đã công bình và Ngài “vẫn công bình” khi Ngài không cứu một ai trong số họ… Vì họ đã chọn điều đó.
Lòng nhơn từ của Chúa: Chúa hy sinh để làm giá chuộc con người, nhưng không phải là hy sinh cho TẤT CẢ (Chúa định trước một số người được cứu). Ngài cứu chuộc một số người mà Ngài đã ĐỊNH TRƯỚC, biết trước… Đó là chương trình và ý định của Chúa đã có từ “trước buổi sáng thế” (Tiền định).
Khi đối diện với Phúc âm cứu rỗi, ý chí tự do của con người (sa ngã) vẫn còn “tỉnh táo” như khi họ làm những điều “chọc giận” Ngài (Rô-ma 1: 18-32)… Nhưng đối với những ai được chọn theo ý định và sự biết trước (tiền định) của Chúa thì Thánh Linh của Chúa giúp đỡ họ, để họ ăn năn tội lỗi và tin nhận sự “đền tội” của Chúa… để họ được cứu. Đối với người tin nhận Chúa không phải họ tốt hơn người không tin, nhưng họ được Thánh Linh giúp đỡ… Còn việc Chúa (Thánh Linh) giúp người này không giúp người kia, chọn người này không chọn người kia… đó là quyền của Chúa và Chúa vẫn công bình khi Ngài không giúp những người luôn công khai và dùng ý chí để “chọc giận”, chống lại Ngài…! - “Gió muốn thổi đi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng gió nhưng không biết gió đến từ đâu”… - công việc tái sanh một người là việc của Thánh Linh. - Đôi khi gió thổi mát người này mà không thổi mát người kia… đó là “việc của gió”!
Chúa Jesus phán dạy giáo sư Ni-cô-đem: “Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy.” (Giăng 3: 8)
Không ai có quyền “hỏi gió” rằng: sao gió thổi chỗ này mà không thổi chỗ kia!
Sứ đồ Phao-lô viết: “Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc; vì trong Tin lành nầybày tỏ sự CÔNG BÌNH của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin…” (Rô-ma 1: 16-17)
Tin lành bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời khi Ngài chịu chết đền tội cho nhân loại (nhân từ, yêu thương- trả giá chuộc tội) nhưng Ngài cũng công bình khi Ngài muốn chọn cứu ai trong đám “chọc giận” Ngài. Và con người vẫn phải chịu trách nhiệm về “hành vi và thái độ tín ngưỡng” của họ đối với Đức Chúa Trời, khi họ dùng ý chí tự do để “chọc giận” Chúa- tức “kính thờ và hầu việc loài chịu dựng nên thế cho Đấng dựng nên”! (Rô-ma 1: 25)
Như vậy ơn cứu rỗi liên quan đến vấn đề “tiền định” và “ý chí tự do” được bày tỏ trong Kinh thánh không hề mâu thuẫn.
“Tiền định” không cướp đi quyền tự do và ý chí chọn lựa quyết định của con người trước ơn cứu rỗi, nhưng chỉ “giúp đỡ” họ tin…
“Ý chí tự do” của con người (tội nhân) vẫn không hề bị xâm phạm khi họ chọn khước từ Phúc âm. Lẽ đương nhiên, con người phải chịu trách nhiệm về sự chọn lựa của mình.
Tóm lại: ơn cứu rỗi liên quan đến vấn đề “tiền định” và “ý chí tự do” được bày tỏ trong Kinh thánh không hề mâu thuẫn.

Tt. Ms Huỳnh Thúc Khải
LHS- 18/1/2017

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2017

Chúa Có Định Cho Ai Sự Hư Mất Không?


Chúa Có Định Cho Ai Sự Hư Mất Không?

Kết quả hình ảnh cho hỏa ngục
(Minh họa)
Kinh thánh cho biết: Trước khi sáng thế, Đức Chúa Trời đã chọn một số người để cứu chuộc và lập nên Hội thánh… Sự sa ngã của con người là Chúa biết trước…
Như vậy, một số người sẽ hư mất, bởi vì Chúa chỉ chọn một số người để được cứu… Vấn đề đặt ra là Chúa có “tiền định cho ai bị hư mất” không? Nếu Chúa tiền định cho một số người hư mất thì việc đó có nghịch lại bản tánh yêu thương, nhân từ của Chúa không?
Quả thật, nếu nhìn vào sự kiện Chúa biết trước sự ngã của con người và Ngài định cho một số người được cứu thì có vẻ cũng đồng nghĩa Ngài cũng “định cho một số sa ngã hư mất”… Và như vậy thì việc đó sẽ “nghịch lại với bản tánh công bình, yêu thương, nhơn từ của Chúa”… chăng? Nếu không giải quyết được mâu thuẫn này thì giáo lý hoặc quan điểm tiền định là một vấn đề khó khăn: không thể phủ nhận (vì Kinh thánh dạy như vậy) nhưng cũng khó chấp nhận, vì làm sao một Đức Chúa Trời công bình, yêu thương lại “định cho một số người hư mất, chịu hình phạt đời đời trong hỏa ngục”?
Nếu bảo rằng đó là “quyền tối thượng của Đấng Tạo hóa” (Thợ Gốm) thì chúng ta nghĩ sao về số phận những người “bị định cho sự hư mất” khi họ được sinh ra, “sống tạm ít ngày rồi đi vào hồ lửa”? Họ không có quyền chọn lựa? Sự công bình của Chúa ở đâu?
Khi được một số độc giả đặt câu hỏi như trên thì người viết cũng cảm thấy “khó xử”. Thật sự là khó giải quyết khi bảo rằng “đó là quyền tối thượng của Đấng Tạo hóa”… (Người ta sẽ đặt câu hỏi: Liệu một Đấng Tạo hóa như vậy có quá… “tàn nhẫn” không?)
Người viết đi tìm câu trả lời nơi Chúa (cầu hỏi Chúa về điều này) và… đã được dạy dỗ như sau:
1. Một trăm năm Nô-ê vừa đóng tàu vừa giảng đạo… Ngoài trừ gia đình ông, tất cả loài người thời đó đều từ chối hợp tác với Nô-ê để đóng tàu, cũng như tiếp nhận sứ điệp “cứu rỗi” của Nô-ê… Khi nước lụt đổ xuống và cửa tàu đóng lại thì họ không có quyền để trách Nô-ê hay Đức Chúa Trời “vô tâm”… (hay tàn nhẫn)
2. Mạng lịnh của Chúa từ thời A-đam là “sinh sản và làm cho đầy dẫy đất”… Thế nhưng, từ biến cố nước lụt trở đi, loài người (ra từ Nô-ê và gia đình ông) … họ đã làm ngược lại với ý chỉ ban đầu của Chúa: Tập trung xây tháp Ba-bên để “làm vinh hiển mình, e bị tản lạc khắp đất chăng”? (Sáng thế ký 11) Thay vì làm theo ý chỉ và mạng lịnh ban đầu của Chúa thì họ làm ngược lại (Chúa bảo “tản ra và làm vinh hiển Chúa”, họ làm ngược lại: “tập hợp và lo làm vinh hiển mình”). Họ có ý thức và hiểu rõ công việc họ đang làm không? Họ làm trong ý thức và hiểu rõ… Do đó họ phải chịu trách nhiệm về thái độ và việc làm của họ trước Đấng Tối cao trong ngày phán xét.
3. Khi xử đóng đinh Chúa Jesus- Con Đức Chúa Trời trên thập giá thì những người tham gia có ý thức việc họ làm là bất công và gian ác… với Chúa không? Rõ ràng là có (chính Phi-lát thừa nhận là “người này không có tội gì”). Thế thì Phi-lát và những người tham gia phiên tòa này có chịu trách nhiệm về việc làm của mình trước “Tòa Án Lớn và Trắng”… không? Không thể nói rằng những người xử Chúa họ hoàn toàn không chịu trách nhiệm gì khi đối diện sự phán xét sau cùng.
4. Khi con người “kính thờ và hầu việc loài thọ tạo” (hình tượng các tôn giáo- lãnh tụ chính trị…) thay cho Đấng Tạo hóa thì họ có ý thức không? Và nếu họ làm trong ý thức (thậm chí là ngạo mạn, thách thức Đức Chúa Trời…) thì không thể nói là họ không chịu trách nhiệm khi đối diện sự phán xét sau cùng…
(Người viết khẳng định là Chúa dạy mình như 4 điều trên đây khi đặt vấn đề cầu hỏi Chúa)
- Giả sử những người vì “nhiệm vụ chính trị”, họ phải “chui sâu, nằm vùng” trong các tổ chức, giáo hội Tin lành… Họ làm tới chức “mục sư hoặc hội trưởng”… nhưng họ không tin Chúa thật (không có sự tái sanh)… Khi đối diện với Chúa, Ngài phán: “Hãy lui ra và đi vào hồ lửa”… Những người đó có thể nói “Chúa bất công” được không?
Kinh thánh chép: “Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật. Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÃ TỎ ĐIỀU ĐÓ CHO HỌ RỒI, bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được,  vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm. Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại; họ đã đổi vinh hiển của Đức Chúa Trời không hề hư nát lấy hình tượng của loài người hay hư nát, hoặc của điểu, thú, côn trùng… …Vì họ đã đổi lẽ thật Đức Chúa Trời lấy sự dối trá, kính thờ và hầu việc loài chịu dựng nên thế cho Đấng dựng nên, là Đấng đáng khen ngợi đời đời! A-men. (Rô-ma 1: 18-25)
Mặc dù con người là sa ngã, nhưng họ vẫn còn có ý thức rất rõ công việc của mình… Họ biết rõ việc làm, tư tưởng, lời nói, hành động của mình là thiện hay ác, là đúng hay sai… chứ không phải họ là một “con vật hoàn toàn vô thức”… Khi họ bắt bớ Hội thánh, khinh bỉ đạo Chúa hoặc công khai từ chối Phúc âm (chẳng hạn) là họ đang làm trong ý thức của một con người có lương tâm và nhận thức… Do đó họ phải chịu trách nhiệm về “đức tin và sự chọn lựa” của họ… khi đối diện sự phán xét…
- Chúa định cho một số người được cứu, nhưng những người còn lại vẫn phải chịu trách nhiệm về “đức tin và sự chọn lựa” của mình, khi họ công khai “kính thờ và hầu việc loài thọ tạo thay cho Đấng Tạo hóa” là Đức Chúa Trời, khinh dễ quyền phép rất cao, chối bỏ Phúc âm hoặc những việc làm tương tự… vì họ làm những điều đó trong nhận thức và ý chí chọn lựa của một con người, chứ không phải vô thức (như con vật). – Mặc dù sa ngã nhưng họ vẫn biết đúng- sai, vẫn phân biệt được thiện- ác… cho nên họ vẫn phải chịu trách nhiệm về sự chọn lựa “thái độ sống” của mình, khi còn trong dương thế.
- Trước khi sáng thế, Chúa đã biết trước sự sa ngã của con người khi họ chọn “bất tuân mạng lịch Chúa” (ăn trái cấm). Chúa nhìn thấy trước một thế giới sa ngã, công khai “kính thờ và hầu việc loài thọ tạo thay cho Đấng Tạo hóa” (như Rô-ma 1: 18-25 mô tả) … họ làm điều đó trong ý thức và “ý chí tự do Chúa ban cho” chứ không phải làm trong vô thức… Do đó họ phải chịu trách nhiệm về thái độ sống, về đức tin chọn lựa “nhân sinh quan, thế giới quan”, tôn giáo, tín ngưỡng của họ… khi còn trong dương thế.
- Đối với những người “được chọn” theo sự biết trước (tiền định) thì Chúa “kéo họ ra khỏi thế giới bội nghịch có ý thức của con người”… để lập nên Hội thánh… Nếu Chúa không “kéo” thì tất cả thế giới này đều là “bội nghịch và xứng đáng xuống hồ lửa”… mà Chúa vẫn công bình!
Sở dĩ Cơ-đốc-nhân VN chúng ta đa số, nếu không muốn nói là hầu hết theo quan điểm hoặc hành đạo theo hướng “ý chí tự do” (của Arminius) mặc dù “ông tổ” đem Tin lành vào VN là cụ cố giáo sĩ- mục sư AB. Simson, là người của giáo hội Trưởng lão- là giáo hội theo quan điểm “Tiền định tuyệt đối” (của Calvin)… Sở dĩ như vậy, có lẽ là vì không giải quyết được cái mâu thuẫn như lúc đầu chúng ta đưa ra (trong bài này). Đó là: nếu Chúa “định cho một số người được cứu” thì cũng đồng nghĩa Chúa cũng “định cho một số người hư mất”. Và như vậy, sẽ khó giải thích là vì sao Chúa yêu thương nhân từ mà lại “định cho một số người hư mất”! Vì vướng phải mâu thuẫn này, mà không được giải quyết, do đó đa số (các cụ nhà ta) đành chọn quan điểm “không phủ nhận tiền định, mà cũng không dám chấp nhận công khai, tuyệt đối…”. Nghĩa là cũng vừa chấp nhận “tiền định” mà cũng vừa công nhận “ý chí tự do”… (Có người gọi là “tiền định nhưng không độc đoán”)
Hy vọng bài chia sẻ này sẽ giúp chúng ta “đả thông tư tưởng”!
A-men.

Tt. Ms Huỳnh Thúc Khải
LHS- 17/1/2017

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2017

Tiền Định: Bị Bán Và Cứu Chuộc…

Tiền Định: Bị Bán Và Cứu Chuộc…
Hai con chim sẻ há chẳng từng bị bán một đồng tiền sao? Và ví không theo ý muốn Cha các ngươi, thì chẳng hề một con nào rơi xuống đất.” (Ma-thi-ơ 10: 29)
Vả, chúng ta biết luật pháp là thiêng liêng; nhưng tôi là tánh xác thịt ĐÃ BỊ BÁN cho tội lỗi.” (Rô-ma 7: 14)
Vả, tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi, bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn; vì tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn.  Ví bằng tôi làm điều mình không muốn, ấy chẳng phải là tôi làm điều đó nữa, nhưng là tội lỗi ở trong tôi vậy.
Vậy tôi thấy có luật nầy trong tôi: Khi tôi muốn làm điều lành, thì điều dữ dính dấp theo tôi. Vì theo người bề trong, tôi vẫn lấy luật pháp Đức Chúa Trời làm đẹp lòng; nhưng tôi cảm biết trong chi thể mình có một luật khác giao chiến với luật trong trí mình, bắt mình phải làm phu tù cho luật của tội lỗi, tức là luật ở trong chi thể tôi vậy. Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy? Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta
!” (Rô-ma 7: 18-25)
Kết quả hình ảnh cho công lý pháp luật
***
1. Bị bán:
Cái gì đã “bị bán” thì người làm chủ không còn quyền… Người Ê-díp-tô đã bán “đất ruộng và bổn thân” cho Pha-ra-ôn để có lúa ăn… nên họ không còn quyền trên bản thân và đất ruộng - Dân chúng nói rằng “chúng tôi sẽ làm tôi mọi cho Pha-ra-ôn” (Sáng thế ký 47: 25)
Cũng vậy, khi đã bị bán cho tội lỗi thì con người trở thành “tôi mọi cho tội lỗi”. Theo luật ngày xưa, tôi mọi thì không có quyền gì cả.
Phao-lô nói “Vả, chúng ta biết luật pháp là thiêng liêng; nhưng tôi là tánh xác thịt ĐÃ BỊ BÁN cho tội lỗi…” và ông luận tiếp: “điều lành tôi biết, nhưng KHÔNG CÓ QUYỀN để làm cho trọn”… “một luật khác giao chiến với luật trong trí mình, bắt mình phải làm phu tù cho luật của tội lỗi”… (Rô-ma 7: 18-25)
Theo Phao-lô, như ông đã luận trong phần Kinh thánh trên: Con người “KHÔNG CÓ QUYỀN để làm điều lành mình muốn”, nhưng “làm điều ác mình không muốn”. Có một “luật” giao chiến trong tâm trí, bắt người ta phải làm điều ác mình không muốn… Vì bản thân con người “ĐÃ BỊ BÁN CHO TỘI LỖI”… (Rô-ma 7: 18-25)
Những người theo quan điểm “ý chí tự do” cho rằng ý chí tự do của con người được chính Chúa ban và ý chí đó vẫn “còn sống” và “có quyền” để chọn tiếp nhận ơn cứu rỗi hay từ chối… Tuy nhiên, có lẽ họ không quan sát điểm này: ý chí đó đã tình nguyện “vâng phục vua cầm quyền chốn không trung, tức là thần hiện đương hành động trong các con bạn nghịch”… (Ê-phê-sô 2: 2) Nói một cách khác là ý chí đó cũng đã “bị bán” cho Sa-tan rồi! Do đó: Ý chí tự do của con người KHÔNG CÓ QUYỀN để chọn “ơn cứu rỗi” khi họ nghe sứ điệp của Tin lành, trừ khi nó được “cảm thúc bởi Thánh Linh”- Như có chép “Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.” (Phil. 2: 13)

2. Cứu chuộc:
Lại nếu kẻ nào nghe lời ta mà không vâng giữ, ấy chẳng phải ta xét đoán kẻ đó; vì ta đến chẳng để xét đoán thế gian, nhưng để cứu chuộc.” (Giăng 12: 47)
Người nào nghe lời Ta mà không vâng giữ, Ta cũng không kết tội, vì LẦN NÀY Ta đến trần gian không phải để kết tội, nhưng để cứu vớt.” (Bản dịch HĐ)
Câu Kinh thánh trên đây hé mở một điều: Những người theo đạo mà không giữ đạo (vâng giữ Lời Chúa) thì cũng hư mất như người chưa từng theo đạo… Bởi họ cũng không có tên trong danh sách “tiền định được cứu rỗi”- sự biết trước của Đức Chúa Trời… (Ma-thi-ơ 7: 21)
Chúa phán với người Giu-đa rằng: người nào nghe lời Chúa nhưng không tiếp nhận hoặc không vâng giữ, điều đó “không có gì lạ”, và Chúa cũng không đoán xét họ. Vì sao? Vì khi A-đam phạm tội thì con người đã bị định tội rồi. Lần này Chúa đến (sự giáng sanh, chịu chết) là để “cứu chuộc” hoặc “cứu vớt”… chứ không phải định tội hay phán xét. Tất nhiên, ngày cuối cùng (Tái lâm) mới có một sự phán xét chung thẩm.
Chúa đến lần thứ nhất không phải để phán xét, nhưng để “cứu vớt” hoặc “cứu chuộc” (những ai không vâng giữ lời Chúa không có gì lạ, vì họ KHÔNG ĐƯỢC CHUỘC… họ là con của sự hư mất…)
Chúa đến là để “cứu”, đồng thời cũng là “chuộc” lại… Ngài phải trả giá cho sự cứu chuộc đó. Ngài đến để “cứu vớt”. Do đó: cứu ai, vớt ai, chuộc ai… là QUYỀN của Chúa. Chúa chọn ai là quyền của Chúa. Tất cả loài người đã bị A-đam “BÁN CHO TỘI LỖI”… Tất cả loài người đã “phục dưới quyền của Sa-tan, chúa đời này, vua của sự tối tăm” để chống lại Đức Chúa Trời… Do đó, bây giờ Chúa trả giá chuộc bằng sự đổ huyết của Ngài và vì thế Ngài có quyền “chuộc ai”, “cứu ai”, “vớt ai”… đó là QUYỀN CỦA NGƯỜI TRẢ GIÁ! (người trả tiền có quyền chọn món hàng đúng theo giá đã trả) Chúa đổ huyết để “mua” và “chuộc” những người mà Ngài đã biết trước, chọn trước, định trước… chứ Chúa không đổ huyết để đền tội hay “chuộc cả thế gian”! Vì như thế thì đâu cần người ta tin hay không tin, nhận hay không nhận và cũng không có sự phán xét cuối cùng nào và cũng không ai hư mất cả.  
Ý chí tự do của con người cũng đã “BỊ BÁN cho tội lỗi” rồi. Con người tình nguyện “vâng phục Sa-tan” - vua của sự tối tăm… (Ê-phê-sô 2: 2) Nên không bao giờ ý chí ấy có thể được “tự do” (khỏi Sa-tan, quyền lực tội lỗi) để chạy đến với Chúa!

3. Sự tể trị tuyệt đối của Đức Chúa Trời:
Hai con chim sẻ há chẳng từng bị bán một đồng tiền sao? Và ví không theo ý muốn Cha các ngươi, thì chẳng hề một con nào rơi xuống đất. Tóc trên đầu các ngươi cũng đã đếm hết rồi… vì các ngươi quí trọng hơn nhiều con chim sẻ...” (Ma-thi-ơ 10: 29-31)
Sự tể trị tuyệt đối của Chúa chi tiết trên từng con chim sẻ, sợi tóc trên đầu mỗi người… Việc một con chim sẻ “bị bán”… nếu “không theo ý muốn Chúa” hoặc Chúa không cho phép thì không ai bắt được nó để bán…! Sợi tóc cũng không dễ bị rơi…
Loài người bị bán cho tội lỗi Chúa có biết không?
Trước khi sáng thế Ngài đã chọn một số người “trong Đấng Christ” để lập nên “Hội thánh” mà Ngài phải “mua bằng huyết”… (Eph. 1: 4; Công vụ. 20: 28) Như vậy, loài người “bị bán” Chúa cũng đã biết trước và Ngài cho phép… (vì loài người quý hơn loài chim) để rồi sau đó Ngài đổ huyết để “mua chuộc” lại một số người “trong Đấng Christ” để lập nên “Hội thánh”- là những người được chọn, được chuộc… ở trong Đấng Christ… Điều đó là “theo ý chỉ của Chúa”.

Tóm lại:
Như sứ đồ Phao-lô đã nói: “…vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.” (Eph. 2: 10)
“…Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, 5 bởi sự thương yêu của Ngài đã ĐỊNH TRƯỚC cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài, 6 để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài!” (Eph. 1: 4-6)
Vì Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi đã bị bán nhưng không; cũng sẽ được chuộc lại chẳng bằng tiền bạc.” (Ê-sai 52: 3)
Các ngươi đã bị bán không giá cả
Nên các ngươi sẽ được chuộc lại không phải bằng tiền bạc
.”
(BDM)
Tổ phụ A-đam đã bán loài người cho ma quỷ, và bây giờ Chúa “mua và chuộc” lại, nhưng không phải tất cả mà chỉ những người Ngài biết trước, chọn trước, định trước…

Tt. Ms Huỳnh Thúc Khải
LHS- Chúa nhật 15/1/2017

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2017

Đàn Bà Giảng Dạy Trong Hội Thánh Là… HỖN LOẠN!?


Đàn Bà Giảng Dạy Trong Hội Thánh Là… HỖN LOẠN!?

Kinh thánh: I Cô-rinh-tô 14: 33-38.
Nếu họ muốn tìm hiểu điều gì, thì cứ về nhà hỏi chồng, bởi vì phụ nữ mà lên tiếng trong cộng đoàn thì KHÔNG CÒN THỂ THỐNG gì.(I Cô-rinh-tô 14: 35 - Bản dịch GKPV)
Nhưng điều TA TRÁCH NGƯƠI, ấy là ngươi CÒN DUNG cho Giê-sa-bên, người nữ ấy xưng mình là tiên tri, dạy dỗ và phỉnh phờ tôi tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà dâm, và ăn thịt cúng thần tượng.” (Khải huyền 2: 20)
 Kết quả hình ảnh cho bà mục sư Phạm Xuân Thiều
***
Mạng lịnh của Chúa là đàn bà không được phép giảng dạy trong hoặc trước Hội thánh!
Cho dù biện ra bất cứ lý do gì để phụ nữ được phép giảng dạy, lãnh đạo hoặc làm mục sư trong Hội thánh thì người ta đã đi ngược lại với MẠNG LỊNH của Chúa!
Trong Hội thánh tại Cô-rinh-tô, có lẽ có một số người, trong đó có phụ nữ đã “ứng lên” tuyên bố mình được ơn nói tiên tri hoặc “đầy dẫy Thánh Linh”… Những người này mạnh mẽ giảng dạy trong Hội thánh. Phao-lô lên tiếng việc này, ông không đồng ý và không cho phép phụ nữ giảng dạy trong Hội thánh trước sự có mặt của đàn ông.
Vả, Đức Chúa Trời chẳng phải là Chúa sự loạn lạc, bèn là Chúa sự hòa bình.
Hãy làm như trong cả Hội thánh của các thánh đồ, đàn bà phải nín lặng trong đám hội của anh em: Họ không có phép nói tại nơi đó, nhưng phải phục tùng cũng như luật pháp dạy. Nhược bằng họ muốn học khôn điều gì, thì mỗi người trong đám họ phải hỏi chồng mình ở nhà; bởi vì đàn bà nói lên trong Hội thánh là không hiệp lẽ. Có phải là đạo Đức Chúa Trời ra từ nơi anh em, hoặc chỉ đến cùng anh em mà thôi chăng?
Nếu ai tưởng mình là tiên tri, hay là được Đức Thánh Linh soi sáng, thì người ấy hãy biết rằng điều tôi viết cho anh em đây là mạng lịnh của Chúa. Mà nếu ai muốn bỏ qua thì mặc họ bỏ qua
!” (I Cô-rinh-tô 14: 33-38)
Ủa! Đạo Đức Chúa Trời há từ nơi anh em mà ra sao, hoặc chỉ đến cùng anh em mà thôi ư?” (I Cô-rinh-tô 14: 36 – NC)
Có phải lời dạy dỗ của Thượng Đế đến từ anh chị em không? Hay là chỉ có một mình anh chị em là có sự dạy dỗ ấy?” (HĐ)
Một nhóm người, trong đó có một số phụ nữ tại Hội thánh Cô-rinh-tô đã tuyên bố họ được ơn nói tiên tri và đầy dẫy Thánh Linh… Họ đã giảng dạy mạnh mẽ “điều gì đó”… Sứ đồ Phao-lô chưa nói đến “nội dung sứ điệp” - sự dạy dỗ của nhóm này - nhưng ông chỉ bác bỏ một điều: phụ nữ - dù xưng mình là tiên tri - mà giảng dạy trong Hội thánh là “không hợp lẽ”! – Phụ nữ có thể được kêu gọi làm tiên tri nhưng “không được phép giảng dạy trong Hội thánh”!
- “…Bởi vì đàn bà nói lên trong Hội thánh là không hiệp lẽ…” (c. 35)
- “Đàn bà lên tiếng trong các buổi nhóm họp là không phải lẽ.” (Bản dịch PT)
-  “…Bởi vì phụ nữ mà lên tiếng trong cộng đoàn thì KHÔNG CÒN THỂ THỐNG gì.” (Bản dịch GKPV)
- “Vả, Đức Chúa Trời chẳng phải là Chúa sự loạn lạc, bèn là Chúa sự hòa bình.
Hãy làm như trong cả Hội thánh của các thánh đồ
…” (c. 33)

- “Vì Đức Chúa Trời không phải là Đức Chúa Trời của sự hỗn loạn, nhưng của sự trật tự…” (Bản dịch HĐTT)
- “Vì Đức Chúa Trời không phải là Đức Chúa Trời hỗn loạn mà là Đức Chúa Trời bình an như trong tất cả các Hội Thánh của các thánh đồ.” (BDM)

Theo Phao-lô, đàn bà giảng dạy trong Hội thánh là “HỖN LOẠN”, là “LOẠN LẠC”, là “KHÔNG CÒN THỂ THỐNG GÌ”…Và Hội thánh của các thánh đồ không cho phép một phụ nữ nào đứng lên giảng dạy. – “Đức Chúa Trời của sự trật tự như trong Hội thánh của các thánh đồ”.

Kết quả hình ảnh cho bà mục sư Phạm Xuân Thiều
(Nữ mục sư Võ Xuân Loan)

Vấn đề tại Hội thánh Cô-rinh-tô nghiêm trọng đến mức: Khi một số phụ nữ giảng dạy trong Hội thánh- họ tuyên bố mình là “nữ tiên tri” hoặc “đầy dẫy Thánh Linh”… Lời tuyên bố này cho họ “uy quyền” để giảng dạy trong Hội thánh, bất chấp việc đó “không giống với Hội thánh của các thánh đồ” – (là phụ nữ không được giảng dạy trước Hội thánh), bất chấp cả việc sứ đồ Phao-lô là người đã đem Tin lành đến cho họ tại Cô-rinh-tô, có đồng ý hay không đồng ý việc “phụ nữ giảng dạy trong Hội thánh”… Do đó, Phao-lô viết thư và lý luận với họ: Có phải đạo Chúa (Tin lành) ra từ anh chị em và sự dạy dỗ (mà anh chị em đang có) chỉ một mình anh chị em có thôi sao? Thánh Linh chỉ bày tỏ nơi một số anh chị em đang “nói tiên tri” hoặc giảng dạy tại Hội thánh Cô-rinh-tô thôi sao? - Ý của Phao-lô muốn nói rằng: sự bày tỏ của Chúa cũng bày tỏ qua người khác (ám chỉ chính ông). - Và điều Phao-lô khẳng định (với những người nữ giảng dạy trong Hội thánh- xưng mình là nữ tiên tri): “Nếu ai tưởng mình là tiên tri, hay là được Đức Thánh Linh soi sáng, thì người ấy hãy biết rằng điều tôi viết cho anh (chị) em đây là mạng lịnh của Chúa. Mà nếu ai muốn bỏ qua thì mặc họ bỏ qua!” (I Cô-rinh-tô 14: 38)
Phao-lô nói rằng: dù ông có trình bày với những lý lẽ sắc bén từ Lời Chúa - luật pháp – “đàn bà phải nín lặng trong đám hội của anh em: Họ không có phép nói tại nơi đó, nhưng phải phục tùng cũng như luật pháp dạy” - hoặc dẫn chứng ra Hội thánh của các thánh đồ- không cho phép hụ nữ giảng dạy… thì những người (nữ) từng giảng dạy trong Hội thánh tại Cô-rinh-tô họ cũng “không nghe” đâu! Vì thế nên ông mới nói: “Ai muốn bỏ qua thì bỏ… nhưng phải nhớ rằng điều tôi nói với anh chị em đây là MẠNG LỊNH của Chúa”: Phụ nữ không được phép giảng dạy hoặc làm mục sư trong Hội thánh.
Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ bị Chúa quở trách là “còn DUNG CHỨA đàn bà Giê-sa-bên giảng dạy trong Hội thánh”: - “Nhưng điều TA TRÁCH NGƯƠI, ấy là ngươi CÒN DUNG cho Giê-sa-bên, người nữ ấy xưng mình là tiên tri, dạy dỗ và phỉnh phờ tôi tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà dâm, và ăn thịt cúng thần tượng.” (Khải huyền 2: 20)
Một số giáo hội cho phép phụ nữ làm mục sư hoặc giảng dạy trong Hội thánh, điều này trái nghịch với Kinh thánh… Tuy nhiên, giống như Hội thánh tại Thi-a-ti-rơ: Họ còn DUNG CHỨA… điều mà Chúa không cho phép!
Một số người cho rằng: Phao-lô có quan điểm “kỳ thị phụ nữ” và việc “không cho phép phụ nữ giảng dạy trong Hội thánh chỉ là quan điểm của Phao-lô”… Tuy nhiên, xét về cả Kinh thánh với những lí do mà Phao-lô đã nói rõ trong I Ti-mô-thê 2: 11-14 thì “phụ nữ giảng dạy trong Hội thánh là trái lẽ”- nghịch với ý muốn Đức Chúa Trời bày tỏ qua Kinh thánh... Thậm chí theo Phao-lô là “HỖN LOẠN”, là “LOẠN LẠC”, là “KHÔNG CÒN THỂ THỐNG GÌ”…
Việc CẤM phụ nữ giảng dạy trong Hội thánh, sứ đồ Phao-lô nói rõ là: “MẠNG LỊNH của Chúa”, như ông có nói:
- “…Điều tôi viết cho anh (chị) em đây là mạng lịnh của Chúa. Mà nếu ai muốn bỏ qua thì mặc họ bỏ qua!” (I Cô-rinh-tô 14: 38)

- Lưu ý: Những gì tôi chia sẻ trên đây là dựa trên Lời Chúa. Tôi hoàn toàn không có ý coi thường hoặc kỳ thị việc phụ nữ làm mục sư hay giảng dạy trong Hội thánh.

Tt. Ms Huỳnh Thúc Khải
LHS- 13/1/2017